Wednesday, December 13, 2017

Vòng kim cô Facebook

Nhảy khỏi vòng kềm tỏa của Facebook

Một hôm có chàng trai buồn bã đến gặp vị thiền sư, nói: “Thưa thầy, không biết vì sao dạo này tâm con bất định, suy nghĩ mông lung, không dứt khoát được chuyện gì?” Thiền sư bèn đưa tay giật lấy chiếc điện thoại trong tay chàng trai, chưa kịp nói gì thì chàng trai đã nhanh nhẩu thốt lên, như thể ngộ ra: “Thưa thầy con hiểu rồi. Ý thầy nói con nên dùng Google để tìm hết mọi chân lý cuộc đời chứ gì!” Thiền sư lắc đầu đáp: “Không, con. Ta chỉ muốn bảo con về tháo gỡ ứng dụng Facebook đi mới mong tìm được sự thanh thản và minh triết”.

Gạt bỏ chuyện chọc cười sang một bên, rõ ràng hiện nay nhiều người bỏ ra nhiều giờ cho Facebook nhưng chưa hiểu gì mấy về cơ chế hoạt động của nó. Nếu bắt chước lối nói gây sốc của nhà sử học Yuval Harari, cũng có thể khái quát, rằng mọi người không phải đang “chơi” Facebook mà Facebook đang biến mọi người thành nô lệ, quần quật làm công không lương cho nó!

Yaval Harari, tác giả cuốn Sapiens, Lược sử loài người thì kiêu khích, rằng đâu phải con người thuần hóa cây lúa mì; đúng ra cây lúa mì thuần hóa con người. Chứ gì nữa: lúa mì bắt nhân loại lao động miệt mài để chăm sóc nó, nhổ cỏ, bón phân, tưới nước; thậm chí sống quần cư quanh lúa mì để suốt đời phụng sự cho nó.

Chúng ta thì tự hỏi, Facebook có chút giá trị nào không khi không có ai thèm viết các dòng trạng thái rồi vào đọc tin tức của bạn bè, nhấn thích, nhấn chia sẻ… Cái giá trị mấy chục tỷ đô-la của Facebook là nhờ cả hai tỷ người đang miệt mài viết cho nó, biến nó thành cơ thể sống mà họ là các tế bào nhiệt tình nhất. Và trong quá trình đó, Facebook đang tác động đến con người ở nhiều góc cạnh không ai ngờ đến.

Nhốt con người trong những bong bóng ngăn cách vô hình

Ai cũng bảo, ưu điểm lớn nhất của Facebook là kết nối mọi người, bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào. Có đúng thế không khi cơ chế hoạt động của Facebook dần dần sàng lọc để chỉ còn những nhóm cùng suy nghĩ, cùng quan điểm chơi với nhau. Câu dọa thường thấy nhất là, đừng nói bậy, bị block (chặn) giờ. Riết rồi trong danh sách bạn bè của một người không còn bóng dáng của người “bất đồng chính kiến”, chỉ còn những kẻ “đồng thanh tương ứng”, thật lòng hay miễn cưỡng.

Đó là do người dùng chọn lựa nhưng quan trọng hơn Facebook có những thuật toán rất tinh vi. Nếu để yên không sàng lọc, không người nào hàng ngày có thể đọc hết những gì bạn bè viết hay chia sẻ trên Facebook.Sàng lọc thì phải sắp xếp ưu tiên để làm biên tập viên vô hình cho người dùng. 

Thế là, thấy người dùng thích gì, chia sẻ gì vài lần là sau đó Facebook sẽ bày mâm bày bát chủ yếu các món tương tự cho họ, ưu tiên cho cái gì vui vui, hấp dẫn, bắt mắt, không cãi cọ. Vì thế người thích tiệc tùng sẽ thấy toàn các chia sẻ ăn chơi, người thích du lịch sẽ thấy nhiều chia sẻ về thắng cảnh, người thích chính trị sẽ thấy toàn các dòng trạng thái đầy trăn trở trước mọi chuyển biến của xã hội. Và dần dà cái thế giới của Facebook mênh mông như thế nhưng lại gồm vô số các bong bóng đóng khung người dùng, nhốt họ trong đó, với cái thế giới của riêng họ.

Thoạt đầu nhiều người hy vọng nền tảng Facebook sẽ mở rộng tầm nhìn cho họ, giúp họ tiếp xúc với các quan điểm khác nhau, cọ xát với những lập luận đối chọi. Thực tế việc tranh luận lành mạnh trên không gian Facebook gần như là không thể, tất cả phải nhường bước cho sự cả vú lấp miệng em vì trên đó cũng có những kẻ chuyên gây hấn, những kẻ hà dùa, những người to miệng thích bắt nạt kẻ yếu hơn, y như trong đời thật, lại không có những ràng buộc mà nền văn minh nhân loại dày công dựng nên để chi phối ứng xử của con người với nhau.

Cái hại lớn nhất của Facebook, vì thế, là củng cố thiên kiến của mọi người một cách rất tinh vi vì cứ tưởng ai ai trên thế gian này cũng suy nghĩ như mình. Hay nói cách khác, Facebook cho bạn thấy cái bạn muốn thấy, thích đọc chứ không phải cái bạn nên thấy, nên đọc.

Thật giả lẫn lộn

Tin giả thời nào cũng có nhưng Facebook là mảnh đất màu mỡ cho tin giả lan tràn. Trước đây những người cổ xúy cho thế giới phẳng thường ca tụng các nền tảng như Yahoo 360° hay Facebook giúp trao quyền cho cá nhân để một người bình thường có tiếng nói ngang bằng các tờ báo lâu đời khác. Nhìn từ góc độ từng cá nhân như vậy thì quá đúng nhưng nhìn từ góc độ người tiếp nhận thông tin thì sao? Các tờ báo có uy tín, đáng tin cậy không bao giờ khinh suất đăng bậy một tin chưa kiểm chứng nhưng từng cá nhân thì lúc nào cũng sẵn sàng đăng các dòng trạng thái được càng nhiều người đọc càng tốt. Có gì khoái hơn đăng vài câu mà hàng loạt người vào đọc, thích và chia sẻ, tin càng giật gân càng được chia sẻ nhiều.

Đó là cơ chế đẻ ra tin giả, tin bịa. Điều đáng buồn là bản năng con người giúp lan truyền loại tin giả này, ai cũng muốn có gì đó mới, lạ, độc, sốc để khoe với bạn bè. Ai cũng nghĩ nó vô hại vì đăng hôm nay, mai bị phát hiện sai thì xóa và lúc đó lại nghĩ mình chỉ là một cá nhân nhỏ xíu, đâu ai để ý.

Lâu dần tin tức của báo chí đàng hoàng, nghiêm túc, loại tin mà cả đội ngũ làm báo bỏ công bỏ sức ra để đem về cho người đọc lại không thu hút người đọc bằng các dòng trạng thái của từng cá nhân. Mỹ đang đau đầu vì tin giả tác động đến cả cuộc bầu cử tổng thống của họ; các nơi khác đau đầu vì tin giả từng phá hại thanh danh hay cả cuộc đời của nhiều cá nhân khác.

Theo tờ The Economist, Facebook thừa nhận trước và sau cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào năm ngoái, 146 triệu người dùng có thể đã đọc những thông tin sai lệch do phía Nga tung ra trên Facebook. Tờ này nhận định, thay vì đem lại sự khai sáng thì mạng xã hội lại làm lan truyền độc chất.

Ngày xưa thuyết âm mưu cũng tồn tại, kiểu như Mỹ chưa hề đặt chân lên mặt trăng hay người ngoài hành tinh đang sống giữa loài người nhưng chúng ít phổ biến. Ngày nay các tay bơm thổi cho các thuyết âm mưu xoa tay hứng khởi vì mỗi khi tung ra một thuyết mới là Facebook giúp họ chia sẻ, lan truyền chúng khắp nơi. Và một khi mạng xã hội lôi kéo đủ một lượng người nào đó chia sẻ thì báo chí chính thống phải nhảy vào, chứ đứng ngoài cuộc chơi lại mất thêm độc giả.

Kẻ phát hành báo chí không được mời

Hiện nay Facebook là kênh phát hành báo chí trực tuyến cực kỳ quan trọng. Các báo dù không muốn cũng phải thừa nhận vai trò phát hành này. Cuối năm 2013, theo lời kể của tờ The Atlantic, Facebook âm thầm thử nghiệm quảng bá cho các báo bằng cách dùng quảng cáo nội bộ lôi kéo người dùng “thích” các trang Facebook của một số báo nổi tiếng. Bỗng chốc lượng người dùng vào đọc các báo này tăng vọt mà không cần có động thái cải tiến nào cả. Các báo vừa thích vừa lo sợ, than, Facebook nó làm chủ chúng ta rồi. Theo bàn tán của giới báo chí Mỹ lúc đó, Facebook làm vậy để cạnh tranh với Twitter đang chiếm sự chú ý của báo chí.

Mới đây Facebook lại thử nghiệm khóa các dòng thông tin người dùng không cho các chia sẻ từ báo chí xuất hiện nữa; ai muốn hiện lên thì phải trả tiền. Thử nghiệm này mới chỉ tiến hành ở sáu nước nhưng kết quả đã gây lo ngại cho báo chí: lượng người đọc ở sáu nước này giảm sút nghiêm trọng. Theo nhiều khảo sát, trên 60% giới trẻ đọc tin tức là dựa vào giới thiệu của bạn bè trên Facebook; kết hợp với các loại hình như kết quả tìm kiếm trên Google, các nơi tổng hợp tin như Google News (ở Việt Nam như Báo Mới) thì số phận các báo xem như do người khác định đoạt. Gián tiếp nắm trong tay báo chí như thế, không lạ gì Facebook dễ dàng tác động vào mọi khía cạnh của đời sống mọi người mà họ không hề hay biết.

Sống chung với lũ

Dưới áp lực của người dùng Facebook phải đang điều chỉnh nhiều thứ như cố dẹp bỏ tin giả. Họ đã nhiều lần thay đổi các thuật toán điều chỉnh sự xuất hiện thông tin trên trang Facebook của người dùng. Facebook làm ra tiền nhờ vào người dùng nên bằng mọi giá họ phải giữ chân người dùng trên Facebook nhiều chừng nào tốt chừng đó. Vì thế, thay đổi gì thì thay đổi, ưu tiên của thuật toán Facebook là làm sao mọi thứ bày biện bắt mắt bạn, làm bạn không rời, cứ cuộn lên đọc tiếp. Cho nên đó vẫn sẽ là mảnh đất màu mỡ cho mọi tay chơi nghĩ ra đủ cách để điều khiển bạn một cách vô thức, dù chỉ để thuyết phục bạn mua hàng.

Vì vậy khó lòng chống chọi lại các ảnh hưởng không như ý của Facebook trừ phi xóa hẳn nó đi như lời khuyên của vị thiền sư kia. Còn vẫn dùng, cách tốt nhất là chủ động bắt Facebook bày mâm bày bát theo kiểu có lợi cho bạn như chọn theo dõi các nhóm có những hoạt động bạn quan tâm.Bấm thích một hội những người thích một loại xe gì đó có thể đem lại cho bạn những thông tin hữu ích hay bất ngờ về loại xe bạn cũng mê; bấm theo dõi một hội những người cùng chia sẻ một thú vui sưu tầm vật gì đó, bạn khỏi cần vào các diễn đàn khó theo dõi vì Facebook sẽ hiện thông tin lên cho bạn.

Hãy bấm thích thật nhiều cho các trang báo mà bạn tin tưởng vào uy tín để tận dụng thuật toán của Facebook. Sẽ đến lúc Facebook phải dán nhãn cho các nguồn thông tin đáng tin cậy, nguồn chưa kiểm chứng vì sẽ đến lúc các nước đòi hỏi Facebook chịu một phần trách nhiệm cho những thông tin đăng tải trên trang của họ như báo chí đang phải chịu trách nhiệm. Suy cho cùng Facebook là tờ báo khổng lồ mà phóng viên là hai tỷ người dùng; chỉ có điều vì họ làm không công nên Facebook phải chịu tốn tiền cho một bộ lọc để duy trì một độ tin cậy nhất định cho tờ báo khổng lồ đó; bằng không quy luật cuộc sống bắt phải đẻ ra một thứ khác để thay Facebook.



Thursday, December 7, 2017

Chuyện thuế Google, Facebook

Nói thêm lần cuối về chuyện thuế Facebook

Đến hẹn lại lên, cứ dăm bữa nửa tháng lại có một bài báo hay một ý kiến than trách chuyện các tập đoàn nước ngoài kinh doanh dịch vụ xuyên biên giới tại Việt Nam, tiền thì thu nhiều mà thuế không phải nộp đồng nào. Vấn đề là câu chuyện này không có gì mới, đã rộ lên mấy năm nay, vì sao đến nay vẫn chưa tìm ra cách hóa giải? Và có đúng là cơ quan thuế đang bó tay, không thu được thuế từ Facebook hay Google không?

Nhà nước đang nắm đằng cán

Nói đến nghĩa vụ thuế của Facebook hay Google thì trước hết phải xác định cho chính xác quy mô thị trường quảng cáo trực tuyến của Việt Nam. Theo số liệu của TS. Đinh Lê Đạt, một chuyên gia trong lĩnh vực quảng cáo trực tuyến, thì tổng doanh thu quảng cáo trực tuyến của thị trường Việt Nam năm 2014 là 216 triệu đô la Mỹ và năm 2015 ước tính 329 triệu đô la Mỹ. Trong đó phần bánh của hai gã khổng lồ Google và Facebook tăng chóng mặt, lên đến lần lượt 65 triệu và 80 triệu đô la Mỹ cho năm 2014; còn năm 2015 là 100 triệu cho Google và 140 triệu đô la Mỹ cho Facebook.

Nói cách khác, hai anh chàng này từ chỗ chỉ chiếm chừng 6% thị phần thì đến năm 2015 đã tăng vọt lên đến 73%! Giả thử số liệu này là chính xác thì năm 2015, ước tính doanh thu quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam của Google và Facebook chừng trên 5.000 tỉ đồng và số thuế họ phải nộp chừng 500 tỉ đồng.

Trước khi nói đến biện pháp thu thuế, tưởng cũng nên nhắc lại nguyên tắc chống thất thu thuế: đó là thuế của người này là phần khấu trừ của người kia cho nên lúc nào cũng có một bên có động lực đòi bên kia minh bạch chuyện thuế. Nếu bạn được giao đi mua một món đồ gì đó cho cơ quan, ắt phòng tài vụ sẽ đòi bạn đem về cho họ hóa đơn đỏ, đó là bởi hóa đơn này là cơ sở để cơ quan bạn liệt kê chi phí được khấu trừ trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Bên bán đã phát hành hóa đơn ra thì phải nộp thuế giá trị gia tăng cho cơ quan thuế.

Đó là với hàng hóa hay dịch vụ trong nước với nhau. Với các dịch vụ giao dịch xuyên biên giới thì Nhà nước tìm cách nắm đằng cán, còn chặt chẽ hơn thế nữa. Theo quy định về thuế đối với nhà thầu nước ngoài thì bên mua dịch vụ từ Việt Nam “có trách nhiệm khấu trừ số thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp... trước khi thanh toán cho nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài”. Như vậy một công ty, ví dụ Vinamilk dùng công cụ Google Adsense để quảng cáo trên hàng loạt ấn phẩm và trả tiền trực tiếp cho Google, khoản chi này đến khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp cho Vinamilk sẽ không được chấp nhận nếu Vinamilk trước đó không mạnh tay cộng thêm 5% thuế giá trị gia tăng và 5% thuế thu nhập doanh nghiệp vào hợp đồng để nộp thay cho Google vì Google chưa hiện diện tại đây.

Nói cách khác một khi Google hay Facebook chưa có sự hiện diện chính thức ở Việt Nam theo Luật Đầu tư thì nghĩa vụ thuế trực tiếp của họ đâu có đâu mà cứ nói họ trốn thuế! Nghĩa vụ thuế của họ đã gián tiếp chuyển sang cho những người mua dịch vụ của họ tại Việt Nam và ai cẩn thận sẽ cộng thêm khoản này trước khi chi trả cho Google (để sau này nộp cho cơ quan thuế), ai không cẩn thận sẽ phải chịu xem khoản chi đó là không hợp lệ, không được khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp. (Nên nhớ trong doanh thu mà Google hay Facebook nhận được từ thị trường Việt Nam, đâu phải họ hưởng trọn 100%? Với Google, đến 68% sẽ được chia cho các tờ báo hiển thị cái quảng cáo đó).

Đến đây có lẽ mọi người đã thấy vì sao báo chí thì cứ than, cơ quan thuế thì bình chân như vại. Bởi cứ như hiện nay đằng nào họ cũng thu được thuế, hoặc là thuế suất thu nhập doanh nghiệp (chủ yếu là 20-22%) trên 5.000 tỉ đồng hay thu trọn 500 tỉ đồng giá trị gia tăng và thu nhập doanh nghiệp mà người mua dịch vụ thu hộ.

Và thật tình mà nói, muốn “làm người lương thiện” thu thuế Google hay Facebook giùm cho Nhà nước cũng nhiêu khê lắm. Thanh toán tiền dịch vụ quảng cáo bằng thẻ tín dụng mang tên cá nhân là không được chấp nhận rồi. Hóa đơn chứng từ đầu vào mang tên cá nhân cũng không được kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào và không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Bộ chứng từ cần có để tính vào chi phí được khấu trừ gồm nào là “quy chế của đơn vị về việc mua các dịch vụ qua mạng”, “đề xuất bằng văn bản của bộ phận kinh doanh cần quảng cáo với cấp trên”, “báo cáo nghiệm thu”, “chứng từ thanh toán”, và quan trọng nhất “tờ khai và chứng từ nộp thuế nhà thầu nước ngoài”. Chẳng lạ gì trên các diễn đàn kế toán, rất nhiều người hoang mang không biết làm sao để hợp thức hóa các khoản chi cho Facebook hay Google, nói gì thu thuế giùm.

Thế còn các dịch vụ khác như Netflix hay Apple Music?

Với các dịch vụ mà người tiêu dùng đầu cuối là cá nhân thì khó lòng áp dụng chuyện bắt họ thu thuế nhà thầu giùm. Với các trường hợp này, phải xác định đòi thu thuế nhưng nhắm thu loại thuế nào là khả thi nhất? Bình thường nhiều người nghĩ đó là thuế thu nhập doanh nghiệp, tức làm ăn có lãi thì phải nộp thuế! Đừng hòng, chuyện thu thuế thu nhập doanh nghiệp các công ty cung ứng dịch vụ xuyên biên giới như Netflix hay Uber là chuyện xa vời - đa phần có thành lập pháp nhân ở Việt Nam đâu mà thu và nếu có, hầu như chắc chắn họ sẽ từ lỗ vừa đến lỗ lớn (xem thêm box).

Loại thuế Việt Nam, cũng như các nước khác, phải nhắm tới là thuế bán hàng, ở nước ngoài phổ biến tên gọi sales tax còn ở Việt Nam là thuế giá trị gia tăng. Sẽ có người nói ngay, đây là thuế gián thu, thực chất là người tiêu dùng nộp, doanh nghiệp chỉ thu hộ thôi. Thu thuế này thì chẳng khác nào thu thuế dân mình chứ đâu có đụng đến các doanh nghiệp đó?

Trong bối cảnh các doanh nghiệp nội địa cung ứng dịch vụ tương tự phải nộp thuế giá trị gia tăng mà doanh nghiệp nước ngoài không nộp thì tính bình đẳng nằm ở đâu, làm sao doanh nghiệp trong nước cạnh tranh cho lại. Dù biết đó là thuế gián thu nhưng thu được còn hơn không và doanh nghiệp muốn cạnh tranh phải chia sẻ gánh nặng thuế đó cho người tiêu dùng.

Có lẽ ít người biết tổng thu thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn nhiều so với tổng thu thuế giá trị gia tăng. Ví dụ theo dự toán ngân sách năm 2015 thì sắc thuế đầu thu 226.700 tỉ đồng trong khi sắc thuế sau thu đến 281.500 tỉ đồng.

Để thu thuế giá trị gia tăng Việt Nam cần theo chân các nước châu Âu xác định rõ các tập đoàn đa quốc gia khi cung ứng dịch vụ xuyên biên giới thì thuế sẽ thu theo vị trí địa lý của người tiêu dùng chứ không phải phụ thuộc vào nơi đóng trụ sở của các tập đoàn này. Ví dụ Anh thay đổi cách tính thuế theo hướng này từ đầu năm 2015 đối với các dịch vụ kỹ thuật số. Trước đây khi còn tính giá trị gia tăng theo vị trí của người bán, nhiều công ty dựng lên trụ sở ở Luxembourg để tránh mức thuế giá trị gia tăng, có khi cao đến 27% ở nhiều nước châu Âu khác.

Các doanh nghiệp lớn như Amazon đã thu thuế giá trị gia tăng trên sản phẩm và dịch vụ số bán ra, ví dụ thuế giá trị gia tăng cho các sách điện tử Kindle bán ở Thụy Điển phải cộng thêm 25% thuế trong khi bán cho người ở Pháp thì chỉ cộng thêm 5,5% thuế. Đáng tiếc trong danh sách mức thuế giá trị gia tăng cụ thể này không thấy có Việt Nam. Hóa đơn của Apple phát hành hiện cho dịch vụ nghe nhạc ở Việt Nam cũng không thấy dòng nào nói chuyện thuế cả. Có lẽ trong giai đoạn này đánh thuế giá trị gia tăng lên sách điện tử làm nó đắt đỏ hơn chưa hẳn là điều hay. Chứ còn với các doanh nghiệp như Amazon hay Netflix, chỉ cần gửi công văn chính thức yêu cầu họ phải giữ lại thuế giá trị gia tăng rồi chuyển nộp cho Chính phủ Việt Nam, chắc họ sẽ tuân thủ như đang tuân thủ với nhiều nước khác trên thế giới. Xét cho cùng họ đâu mất thêm gì đâu, ngoài việc khách hàng của họ than trời chuyện thuế khóa!


Riêng chuyện Facebook và Google cùng nhiều tên tuổi lớn khác đang bị chê trách vì trốn tránh đóng thuế ở các nước họ hoạt động chính thức lại là một đề tài khác. Ví dụ báo chí đầu năm 2016 tràn ngập tin Facebook chỉ đóng vỏn vẹn 122 triệu đô la tiền thuế mặc dù lợi nhuận lên đến 3,4 tỉ đô la, tức chỉ chịu thuế suất 3,6%. Nhân đó báo chí Anh nhắc lại năm 2014 Facebook ghi nhận doanh thu đến gần 1 tỉ bảng nhưng chỉ nộp chừng 6.000 bảng tiền thuế!

Tuesday, November 28, 2017

Thương mại toàn cầu đang biến đổi:

Chuyển đi rồi lại chuyển về

Nếu xem cốt truyện các cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng là một chỉ dấu cho tương lai thật thì có lẽ nền sản xuất kiểu mới chỉ dựa vào công nghệ in 3D sẽ đến trong một ngày không xa. Khá nhiều cuốn khoa học viễn tưởng đặt bối cảnh trong tương lai gần đã miêu tả cặn kẽ chuyện in 3D để làm ra hầu hết mọi thứ nhân loại cần, từ tàu vũ trụ đến máy móc, từ cây kim sợi chỉ cho đến cả thế hệ máy in 3D đời sau!

Trong thực tế nền thương mại toàn cầu trong mấy chục năm trở lại đây dựa vào một nguyên lý: các nước chỉ làm ra những sản phẩm họ có lợi thế so sánh nhất, không chỉ để tiêu thụ trong nước mà còn xuất bán khắp thế giới; còn lại những sản phẩm họ không có lợi thế thì sẽ đi mua về dùng. Nay nền sản xuất của thế giới trải qua những thay đổi lớn, dù chưa đến mức dùng toàn máy in 3D, ắt thương mại toàn cầu sẽ thay đổi theo.

Lợi thế so sánh trước nay thường dựa vào các yếu tố như nhân công rẻ, nguyên liệu dồi dào; cộng thêm các yếu tố mang tính can thiệp như hàng rào thuế quan, chính sách bảo hộ để từ đó hình thành nên các công trường sản xuất hàng hóa cho cả thế giới mà Trung Quốc là một điển hình. Nhìn ở góc độ lợi ích quốc gia và lợi ích của các tập đoàn đa quốc gia thì sự “phân công lao động” kiểu đó, nơi có nước chuyên lắp ráp hàng hóa, đạp máy may làm ra áo quần, tiện ốc, đúc thép… có nước chuyên lo thiết kế, nghĩ ra mẫu mã mới rồi tiếp thị, bán hàng, là tận dụng được hết mức năng lực của mọi người trong dây chuyền sản xuất toàn cầu.

Nói vậy, không lẽ những thành viên trong nội các chính phủ Mỹ, kể cả Tổng thống Donald Trump không hiểu rõ, rằng cố duy trì một hai nhà máy lắp ráp máy lạnh, máy giặt ở lại nước Mỹ để duy trì việc làm cho một số người dân chẳng đem lại lợi ích gì to lớn cho nước Mỹ. Không lẽ họ không biết Appletổ chức sản xuất, lắp ráp iPhone ở Trung Quốc là có lợi nhất vì nhờ đó Apple đang hưởng phần bánh lớn nhất khi tính lợi nhuận từ chiếc iPhone đem về.

Thế nhưng nhìn từ góc độ từng cá nhân tham gia vào chuỗi toàn cầu hóa đó, sự “phân công lao động” như thế tước đi của họ quyền mưu sinh theo đúng khả năng của họ. Nhiều dân Mỹ chỉ thích làm cho nhà máy sản xuất thép; họ đâu muốn “vươn lên” ngồi làm việc bàn giấy,tìm thị trường mới cho ngành thép đâu. Chính vì góc nhìntheo số phận cá nhân này mà nền sản xuất hậu toàn cầu hóa đang có những thay đổilớn.

Một chuyện khác: máy in 3D thì chưa phổ biến như kiểu trong các cuốn khoa học viễn tưởng nhưng sử dụng robot trong sản xuất đã khá phổ biến. Chẳng mấy chốc, yếu tố nhân công giá rẻ không còn là ưu tư lớn nhất khi doanh nghiệp cân nhắc vị trí địa lý để đặt nhà máy nữa rồi. Yếu tố chi phí nhân công không quan trọng nhưng lại trở thành vũ khí hữu hiệu để thu phục nhân tâm nên trong thời gian tới chúng ta sẽ tiếp tục chứng kiến các lô-gích tương tự lô-gích “nước Mỹ trước hết” của Donald Trump.

Còn nhớ cách đây chừng chục năm, một từ thời thượng lúc đó là offshore thì nay từ này đã được thay thế bởi từ reshoring mang nghĩa trái ngược, miêu tả nỗ lực của nhiều doanh nghiệp di dời cơ sở sản xuất về lại cố quốc. Các trường hợp thành công được báo chí tô đậm, từ loại doanh nghiệp vừa như ET Water Systems đến doanh nghiệp lớn như General Electric, đã quyết định chuyển các dây chuyền sản xuất máy giặt, máy lạnh, máy sưởi từ Trung Quốc về lại Kentucky, Mỹ.

Bỗng nhiên người ta nhận ra, thương mại thế giới quanh các sản phẩm hữu hình không còn quan trọng như ngày trước. Từ đó ưu tiên trong đàm phán tự do hóa thương mại thế giới đã dịch chuyển: từ mua bán hàng hóa vật chất chuyển sang mua bán dịch vụ xuyên biên giới.

Thử nhìn các doanh nghiệp lớn nhất nước Mỹ, họ đang chào bán những gì? Đó là các loại công nghệ như với Facebook là công nghệ kết nối con người, Google là hàng loạt công nghệ nền tảng cho hoạt động của Internet, Microsoft là công nghệ phần mềm, Amazon là công nghệ lưu trữ trên mây… Trong phim ảnh thì có Netflix, trong âm nhạc trực tuyến có Apple Music… Loại hàng hóa này được cung cấp vô hình xuyên qua biên giới, nơi các rào cản về thuế chưa chín muồi, nhiều nước chưa biết ứng xử như thế nào cho phù hợp.

Lấy ví dụ trong một tương lai gần, Amazon từ Mỹ hay Alibaba từ Trung Quốc có thể chào mời một nền tảng hạ tầng bán lẻ mà các nhà bán lẻ trong nước khó lòng từ chối. Thử hình dung theo kiểu các doanh nghiệp này xây sẵn các ngôi chợ trực tuyến khổng lồ, các sạp hàng đầy đủ tiện ích, từ quảng bá, có sẵn khách mua đến phương tiện thanh toán dễ dàng tiện dụng, ai dám từ chối tham gia. Vì từ chối để tự mình xây chợ hay sạp tương tự thì khó lòng thành công. Vậy Amazon hay Alibaba không tốn nhân lực qua tận đây, không cần biết đến thủ tục xuất nhập khẩu, không cần sự hiện diện tại chỗ, vẫn tiến hành giao thương quốc tế thành công. Và đó là diện mạo của thương mại toàn cầu trong tương lai.

Thật ra hiện naychúng ta đã tham gia “nhiệt tình” từ sáng đến tối vào cuộc toàn cầu hóa kiểu mới này rồi, như xài Gmail của Google,nhắn tin bằng Viber,kết nối bằng Facebook để “tám chuyện” khắp nơi, nghe nhạc của Spotify, xem phim của Netflix, gọi điện kiểu video với Facetime, học tiếng Anh qua Duolingo… Tương tác kiểu đó với các dịch vụ do doanh nghiệp tận đâu đâu cung cấp nền tảng chiếm khá nhiều thời gian và công sức của chúng ta, còn hơn cả hình dung của bất kỳ nhà đàm phán nào từng đàm phán chuyện gia nhập WTO cách đây 10 năm!

Từ đó mới thấy ưu tiên cho chính sách thương mại tự do nay đã khác trước. Sẽ không còn quan trọng chuyện cắt giảm thuếthay vào đó là các hàng rào kỹ thuật mới, liên quan đến công nghệ số, đến chủ quyền số và thông tin người dùng. Sẽ không trông đợi gì nhiều việc kèm đầu tư nước ngoài FDI vào gói đàm phán vì các yếu tố thu hút đầu tư đã khác trước, không còn chỉ dựa vào công nhân hay thuế. Sở hữu trí tuệ, nền tảng của các công nghệ chào bán, sẽ chiếm phần quan trọng và sẽ được bảo vệ nghiêm nhặt hơn bao giờ hết.

Lấy ví dụ Trung Quốc, với tầm nhìn 10 năm tới, mong muốn đóng vai trò quan trọng trong công nghệ sản xuất ô tô chạy điện, đã đàm phán, thúc dục, ép buộc, thuyết phục, nói chung là bằng mọi cách, lôi kéo sự tham gia của các hãng ô tô lớn trên thế giới vào quá trình này. Họ cũng làm vậy với các ngành khác như sản xuất rô-bốt, chip điện thoại thông minh, công nghệ trí tuệ nhân tạo trong một kế hoạch gọi là “Made in China – 2025”. Đó là họ đang chuẩn bị cho một tương lai khi Trung Quốc không còn đóng vai trò công trường sản xuất hàng hóa tiêu dùng bình thường cho thế giới nữa.

Hiện nay giao thương quốc tế của Việt Nam đang nằm trong tay các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vì họ chiếm hơn 70% kim ngạch xuất khẩu. Đáng tiếc họ cũng chỉ mạnh trong loại hàng hóa vật chất chứ không phải loại hàng hóa vô hình nói ở trên. Điều đáng lo ngại là các thế mạnh làm nên lợi thế so sánh của Việt Nam đang bị bào mòn, kể cả lợi thế về công nhân. Không sớm thì muộn chúng ta sẽ chứng kiến sự đảo ngược theo xu hướng reshoring và, khác với công xưởng Trung Quốc, chúng ta chưa làm gì để tận dụng khoảng thời gian ít ỏi còn lại.

Chỉ còn lại một thế mạnh có thể khai thác: đó là xem Việt Nam như một thị trường đáng kể với sức mua ngày càng tăng. Cộng với nông sản, thủy sản là thứ thế giới dù theo toàn cầu hóa hay theo dân tộc chủ nghĩa vẫn phải cần dùng, hy vọng Việt Nam nhanh chóng tìm được cách mặc cả để vẫn có thể tham gia vòng toàn cầu hóa mới mà không quá thua thiệt.




Monday, October 30, 2017

Ép người quá đáng

Đừng ép xe gắn máy quá đáng

Tranh cãi quanh việc cấm hay không thể cấm xe gắn máy ở các đô thị lớn như Hà Nội hay TPHCM có thể kéo dài cả chục năm nữa vẫn chưa ngã ngũ vì một bên nhìn vào cái đích lý tưởng phải hướng đến và một bên dựa vào thực tế rất đặc biệt của Việt Nam để lập luận.

Tranh cãi thì cứ việc tranh cãi. Thế nhưng tại sao không đồng thời tìm một giải pháp khả dĩ để cải thiện tình hình giao thông dựa trên thực tế đường phố vì ít nhất vài chục năm nữa chúng ta vẫn phải sống với cái thực tế này.

Theo số liệu của Sở Giao thông vận tải TPHCM, tính đến nửa đầu năm 2017, tại thành phố hiện có hơn 640.000 xe hơi và hơn 7,3 triệu xe gắn máy, tức cứ hơn 10 xe gắn máy mới có chưa đầy 1 xe hơi. Thế mà cách ngành giao thông ứng xử với xe gắn máy cứ như thể thành phố này toàn là xe hơi, xe gắn máy chỉ lèo tèo dăm chiếc! Phải chăng cách ứng xử này, cách quản lý này là do sao chép các mô hình ở nước ngoài, nơi xe hơi chiếm đại đa số, xe gắn máy thật sự lèo tèo? Hay phải chăng đó là tư duy của những người suốt ngày ngồi trên ô tô rồi về bàn giấy vạch chiến lược quản lý? Dù vì lý do gì chăng nữa, cách quản lý trái cựa như thế là một trong những nguyên nhân gây ùn tắc hay làm cho tình trạng ùn tắc giao thông càng thêm trầm trọng.

Cứ thử đi trên các con đường nội thành như đường Pasteur, đoạn hay nghẽn cứng sau khi giao nhau với đường Lê Lợi, đường đã nhỏ, người ta lại vẽ vạch phân làn đường thật lớn cho ô tô, còn phần giành riêng cho xe gắn máy nhỏ xíu. Đã vậy đoạn này không có biển phân chia làn đường cho từng loại xe. Thế là ai chạy xe hơi còn chút lương tâm đành chịu nhích dần trên làn bên trái hay làn giữa. Những tay tài xế lái taxi thì bất cần chạy vô luôn làn trong cùng bên phải. Thử hỏi con đường Pasteur nhỏ xíu như thế mà ba chiếc ô tô dàn hàng ngang lừ lừ tiến, xe gắn máy biết chạy đường nào?

Ước gì quan chức ngành giao thông hôm nào đó ngồi xe gắn máy bị xe buýt, xe bán tải, hay xe taxi, xe Uber, xe Grab ép hết đường nhúc nhích mặc dù đã đi sát lề đường bên phải, họ sẽ hiểu không cần ai cấm, nếu có điều kiện ắt mọi người chạy xe gắn máy sẽ bỏ xe ở nhà cho bớt nỗi vất vả.

Vậy cách giải quyết là gì? Ngành giao thông phải dựng ngay bảng phân làn, xe hơi làn bên trái, xe gắn máy làn bên phải và làn giữa là làn hỗn hợp. Dựng xong phối hợp với với cảnh sát giao thông phạt thật nặng tay tài xế xe hơi nào lấn vào làn trong cùng. Người chạy xe gắn máy cũng phải biết cách phản ứng, không cho xe hơi nào chạy ẩu được di chuyển. Cái này đã có thực tế chứng minh sự hữu hiệu, đoạn đường trước khi lên cầu Kênh tẻ hướng về quận 1 phân làn không cho hai xe ô tô chạy song song lấn làn xe gắn máy hay đoạn Tôn Đức Thắng xoay vòng trước khi vào giao lộ với đường Nguyễn Hữu Cảnh cũng vậy – phạt nhiều, phạt nghiêm, cảnh ùn tắc ở hai đoạn này đã giảm hẳn.

Nhìn rộng ra cả thành phố, xin các quan chức ngành giao thông hãy đi rà soát lại, với một góc nhìn mới mẻ, rằng ở thành phố này hơn 10 xe gắn máy mới có một ô tô, để vẽ lại vạch phân làn, đừng ép xe gắn máy quá đáng, giành đường cho họ đi, ắt giao thông sẽ thông suốt hơn, xe gắn máy cũng sẽ ít tạt đầu ô tô hơn. Ở làn đường hỗn hợp, xe gắn máy phải được đối xử như xe hơi – tay lái xe hơi nào chạy sau xe gắn máy mà cứ bóp còi inh ỏi đòi nhường đường, chúng ta hãy phản ứng.

Một việc khác có thể làm ngay để cải thiện tình hình giao thông là tráng nhựa mặt đường cho ra đường. Cứ nhìn vào đường Hai Bà Trưng, những dấu tích đào bới, xẻ đường từ cả chục năm về trước lúc trên mặt đường lù lù các lô cốt rào chắn. Dự án thoát nước đã làm xong, lô cốt được dỡ bỏ nhưng mặt đường chỉ được vá víu, chằng chịt một cách thảm hại. Cộng với những lần xẻ đường quy mô nhỏ hơn để lắp đặt đường ống nước hay ngầm hóa cáp điện, nay mặt đường rỗ chằng rỗ chịt, chạy xe luôn bị mấp mô như cỡi thuyền lướt sóng. Có lẽ nhà quản lý, một lần nữa ngồi xe hơi đằm chắc nên không cảm thấy, xe hơi lại chạy ở giữa đường nơi ít bị đào bới nhất nên có thể vẫn êm ái cho người ngồi.

Cứ thử tưởng tượng một con đường đông đúc như Hai Bà Trưng được tráng nhựa phẳng lỳ, xe chạy êm ru thì tình hình giao thông sẽ được cải thiện thấy rõ. Không còn cảnh xe loạng choạng, xiên xẹo để tránh cái đường lằn của những lần lấp vội đường khác nhau. Không còn cảnh nước mưa đọng lại văng tung tóe buộc người lái xe phải chuyển hướng để tránh.

Toàn là những chuyện dễ làm và không cần tranh cãi!







Thursday, October 26, 2017

Cập nhật Bitcoin

Thực tế bất ngờ của Bitcoin

Đa phần các ý kiến phân tích, nhận định, đánh giá đồng Bitcoinlà từ góc độ lý thuyết nên có thể nghe rất hấp dẫn, lôi cuốn và đầy triển vọng dù kèm theo là một chút mơ hồ, một lớp sương bí ẩn. Nhưng cứ thử tìm hiểu, trong thực tế muốn tiêu một ít Bitcoin để mua cuốn sách, một tách café hay một album nhạc xem thử được không, chúng ta sẽ nhận ra một thực tế phủ phàng.

Hiện nay một giao dịch bằng Bitcoin phải mất từ 10 phút đến 6 giờ hay hơn nữa để hoàn tất. Có nghĩa giả dụ có một tiệm bán kem chấp nhận thanh toán bằng Bitcoin, bạn đến mua một cốc kem, bấm nút trả tiền thì có thể cả tiếng sau chủ tiệm mới được thông báo tiền bạn trả đã về ví của họ. Lúc đó ắt kem đã chảy tan từ lâu. Thử tưởng tượng đi mua hàng mà phải chờ như thế thì còn gì là chức năng thanh toán của một đồng tiền?

Còn vì sao như thế thì tạm thời chấp nhận cách giải thích: cứ 10 phút thì mọi sổ sách giao dịch Bitcoin mới được gom vào một block rồi các nơi dùng những máy tính mạnh nhất tranh nhau quyền xác thực block đó, ai giành được quyền này đầu tiên sẽ được thưởng Bitcoin (gọi là đào Bitcoin) và hưởng một tỷ lệ phần trăm trên giá trị giao dịch. 

Khi giao dịch Bitcoin ngày càng nhiều, dung lượng mỗi block bị hạn chế tối đa 1MB, các thợ đào lại được quyền chọn giao dịch nào để ưu tiên đưa vào block để xử lý thì nút thắt cổ chai ắt sẽ diễn ra. Các giao dịch giá trị lớn, nơi thợ đào còn được hưởng một tỷ lệ hoa hồng phí xử lýcao hơn mới được ưu tiên nên có thể chỉ mất tối đa 10 phút; các giao dịch giá trị nhỏ, cứ treo lơ lửng như vậy nên cả ngày sau mới được xác thực.

Một trong những điều làm nên Bitcoin là không ai có thể sửa đổi các giao dịch đã diễn ra một khi đã được xác thực, nó loại trừ chuyện có 1 đồng mà cứ xách đi mua hàng khắp nơi. Nhưng trong khoảng thời gian chưa xác thực, nếu người bán vội vàng giao hàng thì người mua thoải mái tiêu đi tiêu lại món tiền đó cả chục lần không ai biết. Vì thế mua bán thực bằng đồng Bitcoin đa phần đều phải chờ xác thực rồi thì giao dịch mới có giá trị.

Không thể hiểu nổi một loại đồng tiền mà để được giao dịch nhanh, bạn phải nói với nơi bán tiền cho bạn để nơi này nâng tỷ lệ hoa hồng phí giao dịch lên mới mong được ghé mắt.

Đây là vấn đề rất lớn nên cộng đồng Bitcoin phải tìm mọi cách giải quyết. Theo Bloomberg, các thợ đào thì đòi tăng dung lượng mỗi block lên, hiện nay là 1MB (nên mỗi giây chỉ có thể chấp nhận tối đa 7 giao dịch) tăng lên thành 8MB để giải quyết điểm nghẽn. Nhóm hình thành lên Bitcoin từ ngày đầu lại muốn tách các giao dịch ra nhiều loại, có nghĩa tạo ra nhiều sổ cái chứ không phải chỉ một sổ như hiện nay. Tháng 8 năm nay một nhóm thợ đào thống nhất với nhau tách ra, hình thành loại tiền mới gọi là Bitcoin Cash, trong đó mỗi block có dung lượng 8MB, tạo nên một mầm mống gây chia rẽ. Như vậy khả năng xảy ra bất đồng, lộn xộn trong cộng đồng Bitcoin là rất lớn, ngay cả trong tương lai gần như Bloomberg tiên đoán tháng 11 này sẽ có một cuộc chia tách khác.

Điều thứ hai cũng gây nhiều bất ngờ là mức điện tiêu thụ khổng lồ chỉ để ghi nhận các giao dịch, hay gọi cách khác là đào Bitcoin. Đã có người tính, trả bằng Bitcoin so với quẹt thẻ tín dụng, mức năng lượng tiêu thụ nhiều gấp 3.000 lần. Còn theo Digital Trends, một giao dịch Bitcoin tốn đến 163 KWh, tức bằng lượng điện một gia đình Mỹ xài trong 5,5 ngày! Toàn bộ lượng điện dân đào Bitcoin đang xài bằng lượng điện của cả một nước nhỏ. Chính vì thế 60% hoạt động đào Bitcoin đang diễn ra ở Trung Quốc, ở những vùng dân đào có thể tận dụng thủy điện nhỏ giá rẻ. Một dự báo cho rằng đến năm 2020 mạng lưới Bitcoin sẽ cần một lượng điện bằng tổng sản lượng điện của Đan Mạch. Với kịch bản lạc quan nhất thì đến năm đó, để đào một Bitcoin cần tốn đến 5.500 KWh và cho dù chỉ một nửa lượng điện này được sản xuất bằng nhiên liệu hóa thạch thì một Bitcoin như thế cũng sản sinh ra 4 tấn dioxide carbon rồi.

Tiêu Bitcoin phải chờ lâu như thế nhưng trong thực tế đâu có bao nhiêu điểm chấp nhận thanh toán hàng hóa hay dịch vụ bằng Bitcoin – chủ yếu rao lên chỉ để quảng bá tên tuổi. Phóng viên nhiều tờ báo lớn trên thế giới đã làm các bài phóng sự, kiểu tôi tiêu Bitcoin như thế nào, đều kết luận gần như thế. Hiện nay, theo thống kê của blockchain.info, mỗi ngày có chừng 225.000 giao dịch Bitcoin nhưng chủ yếu là của dân đầu cơ mua bán Bitcoin với nhauhay chuyển đổi từ các loại tiền thật sang Bitcoin và ngược lại chứ ít có chuyện dùng Bitcoin để mua hàng hóa hay dịch vụ thật sự.

Một điểm cũng có thể làm nhiều người ngạc nhiên là tổng số tiền Bitcoin tối đa được tạo ra là 21 triệu Bitcoin (dự đoán là vào năm 2140) cho nên không thể nào nó sẽ là đồng tiền được sử dụng rộng rãi.Bitcoin thực chất là một dãy con số và chữ cái như một địa chỉ (ví dụ 1DTAXPKS1Sz7a5hL2Skp8bykwGaEL5JyrZ). Bạn sở hữu một Bitcoin có nghĩa bạn nắm trong tay một mật mã gắn với địa chỉ này, cho phép bạn truy cập vào cuốn sổ cái “blockchain” để xác định trị giá của nó. Bạn trả tiền cho một người hay một nơi nào đó có nghĩa bạn báo cho “blockchain” bạn sẽ chuyển giao bao nhiêu... Mất dãy số này coi như mất tiền luôn, không cách gì lấy lại được.

So với lý thuyết thì thực tế chung quanh đồng tiền Bitcoin phủ phàng hơn nhiều. Chính vì vậy, cuộc tranh luận về tương lai đồng tiền này vẫn chưa ngã ngũ. Chỉ đáng ngại một điều, giới đầu cơ, giới lừa đảo cứ chăm chăm vào sự quan tâm của công chúng vào Bitcoin để dụ dỗ người nhẹ dạ. Chẳng lạ gì quảng cáo về mua bán Bitcoin trên hệ thống quảng cáo của Google cứ tràn ngập máy tính của người chẳng may gõ tìm thông tin về đồng tiền chỉ tồn tại trên không gian ảo này.


Xem thêm các bài cũ ở đây:
Bitcoin: Ảo hay thật?
Nóng lạnh Bitcoin
Bitcoin là gì?


Wednesday, October 25, 2017

Tương lai giáo dục

Giáo dục 10 năm, 20 năm nữa sẽ như thế nào?

Nếu tin lời phân tích của tờ The Economist, nhiều nghề sẽ biến mất trong tương lai gần.Phần mềm khai thác dữ liệu sẽ thế chỗ các trợ lý luật sư vì chúng tìm và phân tích thông tin nhanh hơn con người nhiều lần. Kỹ thuật viên đọc phim chẩn đoán y tế sẽ nhường ghế cho phần mềm xử lý hình ảnh vì chúng cho ra kết quả chính xác hơn con người. Các ứng dụng đa dạng sẽ tước việc của các đại lý du lịch, bán vé máy bay… Đó chỉ là một vài ví dụ.

Còn nếu nghe theo dự báo của các chuyên gia một bàn tròn do BBC tổ chức, không hẳn tự động hóa sẽ chiếm hết việc của con người mà đúng hơn, đến 60% ngành nghề hiện nay sẽ phải nhường hai phần ba các công đoạn của nghề cho máy móc, phần mềm. Tức là có thể công việc không mất đi nhưng cách “hành nghề” sẽ khác trước một trời một vực.

Dù tin theo ai đi nữa, có lẽ chúng ta phải thừa nhận một điều: không ai biết 10 năm nữa, kỹ năng nào sẽ không còn cần thiết, kỹ năng nào sẽ được nhấn mạnh; kiến thức nào sẽ trở nên lạc hậu, điều gì sẽ giúp một người thích nghi với cuộc sống lúc đó. Nhường cho máy làm hai phần ba công việc thì chúng ta sẽ làm gì?

Chúng ta không biết – vậy làm sao chúng ta có thể yên tâmđứng trước các em học sinh hiện nay đang ngồi ở bậc tiểu học và 10 năm, 15 năm nữa sẽ phải ra đời, đối diện với sự bất định đóđể rồi dạy các em những điềuđã từng được dạy cho chúng ta?Không lẽ chúng ta cứ loay hoay chuyện thi cử trong khi biết đâu tương lai, máy sẽ tuyển người và máy sẽ không thèm nhìn đến bằng cấp?

Trở lại với dự báo của BBC, lấy nghề báo để minh họa. Nghề báo hiện nay, viết chỉ là công đoạn cuối cùng. Các công đoạn chuẩn bị trước đó cần sự hỗ trợ rất lớn từ máy móc: tìm thông tin nền trên Internet, kiểm tra các tin về cùng đề tài đã được đăng tải, nên hỏi câu hỏi gì trong cuộc họp báo sắp tới, xác định được tranh cãi quanh đề tài được giao thực chất là gì… 

Khác với ngày xưa, phóng viên ngày nay phải biết xu hướng người đọc đang quan tâm gì, phải biết khai thác dữ liệu lớn, phải biết “ngửi” tin từ mạng xã hội, từ cái âm thanh ồn ào, râm ran của hàng ngàn ý kiến để sàng lọc các manh mối cần biết. Chẳng khác gì người phóng viên phải hợp tác chặt chẽ với phần mềm, với ứng dụng hay với các công cụ mang tính thông minh nhân tạo, nhường bớt việc cho chúng.

Trường đào tạo các nhà báo tương lai không dạy cụ thể các kỹ năng làm việc theo kiểu hợp tác như thế. Các kỹ năng như đào xới dữ liệu (data mining), nhận biết và tận dụng dữ liệu lớn (big data), viết từ khóa (key words) cho máy tìm kiếm… thường do phóng viên tự tìm hiểu và tự học trong khi hành nghề.Mà dù có muốn tổ chức cũng không biết tìm thầy ở đâu ra trong ngành báo chí để dạy các kỹ năng này. Chỉ mới hình dung đến đó đã thấy tương lai của ngành đào tạo nghề báo phải khác bây giờ nhiều lắm.

Nhìn rộng ra cuộc sống của một người bình thường hiện nay: phải thừa nhận họ tiêu tốn từ vài phút cho đến vài giờ cho mạng xã hội, ở đó, khác với ngày xưa, họ phải có những kỹ năng như viết ngắn gọn, súc tích nhưng mang tính thuyết phục người nghe, đọc hiểu được mọi hình thức biểu cảm để lọc được nội dung thật sự, biết phân biệt được giả chân, ngay cả trong tin tức. 

Sẽ có người thấy tiếc vì ngày xưa chỉ biết học viết theo văn mẫu, đẻ ra toàn những câu sáo rỗng, những đoạn văn vô hồn, không thuyết phục được ai. Sẽ có người băn khoăn vì sao ngày xưa mình cũng học phân tích, chứng minh, bình luận đủ cả nhưng đọc một nội dung có linh tính là sai nhưng không biết sai ở đâu, vì sao sai, làm sao để bác bỏ.

Sẽ có người đọc đến đến đây và thốt lên: không lẽ giáo dục mà phải mang nhiệm vụ chuẩn bị cho người ta chơi Facebook à? Nếu đo lường được tác động của các mạng xã hội, trong đó Facebook là một kênh quan trọng, đang ảnh hưởng đến suy nghĩ, hành vi, quyết định của nhiều người như thế nào, ắt chúng ta sẽ không nghĩ thế. 

Quan trọng hơn, sự độc quyền và đôi lúc sự lũng đoạn thông tin của các tay chơi lớn như Google, Facebook, Twitter sẽ bị hạn chế phần nào nếu chúng ta có những kỹ năng chống chọi lại. Và đó chính là nhiệm vụ của giáo dục – trao công cụ để con người tìm tự do, không bị khống chế bởi xu thế chung hay sự xô đẩy của đám đông bị kích động.

Chỉ vài ba năm nữa thôi, cảnh một em học sinh đưa điện thoại di động lên hỏi một câu bất kỳ, máy sẽ trả lời vanh vách không phải là chuyện khoa học viễn tưởng. Kiến thức sẽ không nằm trong bộ nhớ con người nữa, nó sẽ chuyển qua nằm trên máy hay trên mây. Khi tốc độ truy xuấtgiữa bộ nhớ sinh học và bộ nhớ điện tử là gần như nhau thì việc gì không chuyển kiến thức lên mây để não bộ chứa chuyện khác.

Vậy con người tương lai cần gì; trẻ em đang ngồi ghế nhà trường cần học gì trước những thay đổi đó? Chúng ta không biết cụm kỹ năng nào sẽ tối cần, cụm kỹ năng nào sẽ biến mất trong tương lai nhưng việc đó không ngăn cản các nước chuẩn bị cho học sinh của mình. Và các chuyên gia giáo dục hàng đầu cũng gần như đạt sự đồng thuận về tương lai của giáo dục, trong đó ai cũng nhấn mạnh cần nhất là tính sáng tạo, tư duy độc lập và kỹ năng giải quyết vấn đề. 

Thế giới hiện nay tràn ngập thông tin nên vấn đề không phải là tiếp nhận hay chia sẻ thông tin mà là ứng xử như thế nào với thông tin, bắt nó phục vụ mình trong thế giới thật. Thật ra trẻ nhỏ bắt đầu những ngày đi học với sự độc lập trong suy nghĩ, óc tưởng tượng của các em tràn ngập sự sáng tạo nhưng nhà trường mài mòn dần các đặc tính đó bằng cách nhồi nhét kiến thức, áp đặt suy nghĩ theo lối mòn và đi kèm là các biện pháp kỹ luật, ít nhất là bằng điểm số. Chỉ cần người lớn tránh sang một bên cho các em sáng tạo cũng đã là một thay đổi lớn trong giáo dục tương lai.

Nhìn ra hơn một chút nữa, người ta đang nói về khả năng thiết kế các chương trình học mang tính cá nhân hóa cho từng em học sinh; một điều hoàn toàn khả thi nhờ tiến bộ công nghệ, lúc đó em giỏi sẽ học nhanh hơn em trung bình trong cùng một lớp. Người ta cũng nói về môi trường học, không chỉ trong lớp học truyền thống mà còn là học bất cứ lúc nào bất cứ ở đâu cũng nhờ tiến bộ công nghệ. 

Nói cách khác, học sẽ là phụ, hành (thực hành trong đời thực để giải quyết vấn đề) mới là chính. Kiến thức là phụ, tìm giải pháp cho các dự án thầy cô giao mới là chính. Cũng nhờ thế học sinh sẽ có quyền chọn môn học, chọn tốc độ học, thậm chí tự thiết kế chương trình học cho mình.

Nền giáo dục Việt Nam hiện chỉ mới chú trọng trang bị cho các em kiến thức nền về văn học, toán học, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và một chút kỹ năng công nghệ thông tin, vẫn còn thiếu lãnh vực tài chính, văn hóa và quan hệ dân sự. Các năng lực khác gồm tư duy độc lập, giải quyết vấn đề, cổ súy cho sáng tạo, thực hành giao tiếp, tổ chức hợp tác chưa được chú trọng. Chính vì thế các em thiếu đi sự tò mò, sự chủ động, tính bền bĩ, thích nghi, óc lãnh đạo… toàn là những tố chất cần có của một người sống ở thế kỷ này. Từ đó mới thấy tương lai giáo dục vẫn còn ngổn ngang trăm bề chứ đâu phải chỉ là biên soạn chương trình mới.



Monday, October 16, 2017

Từ Google Translate nghĩ về AI

Từ Google Translate nghĩ về AI

Với nhiều người cho đến nay, Google Translate chỉ là một nơi để minh họa cho lối dịch ngớ ngẩn, nhiều sai sót. Đôi lúc có người vào Google Translate bắt nó dịch một hai câu rồi cười thú vị về cách dịch đôi lúc rất quái đản của nó. Nhưng từ tháng 3 năm nay nếu họ vào lại Google Translate, thử bắt nó dịch một bài báo tiếng Anh ra tiếng Việt, có thể họ sẽ ngạc nhiên.

Kết quả dịch có thể vẫn còn trúc trắc, vẫn còn lỗi, đọc vẫn biết là “máy dịch” nhưng nhìn tổng thể Google Translate hôm nay so với năm ngoái là một bước tiến nhảy vọt thật sự gây bất ngờ. Cứ thử bắt nó dịch một hai câu rồi nguyên cả một bài báo, một tài liệu, một bài diễn văn, càng dài càng tốt, nó sẽ giúp người đọc nắm bắt được ý chính của văn bản, câu kéo khá chính xác và tốc độ thì nhanh không thể tưởng.

Đó là bởi từ cuối năm ngoái Google đã thay đổi cách tiếp cận để giải quyết vấn đề dịch thuật bằng máy. Trước đây máy dịch theo từ hay cụm từ, tức dựa vào hàng triệu từ hay cụm từ đã được dịch để đối chiếu, so sánh và chọn cụm từ nào sát nhất bằng phương pháp thống kê để đưa vào kết quả (phrase-based machine translation). Nay thì máy dịch theo cả câu, rồi dùng ngữ cảnh để quyết định xem từ đó trong ngữ cảnh đó thì chọn nghĩa nào cho chính xác nhất (Google Neural Machine Translation - GNMT). 

Nói ngắn gọn thì Google đã ứng dụng các tiến bộ mới nhất trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, máy tự học và mạng nơ rôn để Google Translate ngày càng thông minh hơn, dịch chính xác hơn, câu văn dịch tự nhiên hơn. Theo đánh giá của nhiều người ở các cặp ngôn ngữ khác như Anh-Tây Ban Nha, Anh-Pháp, Anh-Đức, Anh- Nhật, cách dịch mới cải thiện chất lượng dịch vượt bậc so với trước.

Thế nhưng vấn đề đặt ra cho cặp Anh-Việt là gì? Vì sao người dùng vẫn còn thấy lấn cấn, chất lượng Google Translate cho cặp Anh-Việt dù tiến bộ nhiều vẫn chưa như kỳ vọng? Tháng 11-2016 cách dịch mới được áp dụng cho 8 ngôn ngữ và đến tháng 3-2017 đã mở rộng thêm cho 3 ngôn ngữ khác, trong đó có tiếng Việt rồi.

Google Translate thông minh lên, đầu tiên nó sẽ giải quyết những lỗi sai do máy dịch gây ra. Trước đây, nó sẽ không phân biệt được khi nào bank được dùng theo nghĩa ngân hàng, khi nào là bờ sông; nay bằng cách liên kết cả câu hay các yếu tố trước đó, nó sẽ dịch chính xác, bạn cứ thử bắt nó dịch, she went to the bankshe went to the river bank cho xem.Cái tiến bộ rõ nhất là giảm hẳn lỗi do máy dù vẫn còn không ít.

Nhưng lỗi do con người cũng mắc phải thì cho đến nay Google Translate bó tay.Dù gọi là trí tuệ thông minh nhân tạo nhưng máy cũng phải dựa vào hàng triệu, triệu câu đã được dịch để học. Nếu chúng ta đọc một cuốn sách và nhận ra ngay đó là sách dịch do văn nghe rất “Tây” thì làm sao kỳ vọng Google Translate dịch thanh thoát như thể nó không phải là bản dịch được. 

Lâu nay ai học tiếng Anh thấy câu “We worked hard” đều dịch thành “Chúng tôi làm việc chăm chỉ”, biểu sao Google Translate dịch khác khi đến đoạn Steve Jobs kể lại những ngày đầu ông khởi nghiệp cùng Steve Wozniak trong bài diễn văn nổi tiếng đọc ở đại học Stanford. Hầu hết các bản dịch đều dịch work hard là làm việc chăm chỉ; Google Translate cũng thế!Lúc nào thì tự nó quyết định, thôi nói “làm việc cật lực” cho nó ra tiếng Việt?

Đó là chưa kể tiếng Anh thì chỉ một từ mà tiếng Việt, với khái niệm tương đương, chục người dùng chục từ khác nhau, ví dụ như commodities, futures contract…Đưa cho 10 người đến 9 người dịch commodities là “hàng hóa” và chỉ 1 người dịch thành “thương phẩm”. Chắc máy cũng đau đầu chọn lựa và đi theo cách chọn từ nào được dùng nhiều nhất!

Vậy trí tuệ thông minh nhân tạo (AI), ở đây là một dạng AI chuyên biệt chứ chưa phải là AI tổng quátcó thể nào vượt qua được trí tuệ thông minh của con người như một tập thể để đem lại giá trị thật sự trong tương lai? Liệu Google Translate có thể học nhưng sau đó vượt qua được cách dịch của số đông để hoàn thiện kỹ năng dịch đến mức hoàn hảo trong tương lai?

Hiện nay đã có nhiều ý kiến phản đối cách dùng một cách máy móc các thuật toán máy tính như một dạng trí tuệ thông minh nhân tạo sơ khai để giải quyết các vấn đề liên quan đến con người, ví dụ quan tòa dựa vào máy móc để đưa ra quyết định có cho tù nhân này được tạm thachưa hay một cơ quan quản lý giáo dục dựa vào thuật toán để quyết định tuyển hay sa thải giáo viên ở địa phương.Dựa vào máy tưởng đâu khách quan hoàn toàn nhưng không phải. 

Máy cũng phải dựa vào big data mà kho dữ liệu dù khổng lồ đến đâu cũng dựa vào thực tế cuộc sống, có cả thiên kiến, định kiến, sự thù hằn, sự phân biệt đối xử trong vô thức hay đơn giản là sự máy móc của con người vô tâm… Máy thấy một giáo viên năm xưa lúc còn là sinh viên từng bị bắt vì một lần hút cần sa nay cứ ghi dấu chuyện đó để làm thước đo cân nhắc, liệu có thỏa đáng?Sinh viên nào từng hút nhưng không bị phát hiện nay có gì hơn người bị tì vết đó?

Google thấy một ai tìm “máy giặt” và sau đó liên tục dội bom người này bằng các quảng cáo máy giặt ở bất cứ nơi nào trong không gian mạng người ấy ghé qua, tưởng đâu thế là thông minh theo kiểu AI nhưng có ở trong hoàn cảnh nhu cầu máy giặt chỉ là thoáng qua và cả tuần lễ bị máy giặt quấy rầy mới thấy còn lâu AI mới trở thành một trí tuệ thật sự chứ không phải sự phiền toái.

Vì thế, Google Translate sẽ tiến bộ, các lỗi ngớ ngẩn chỉ có máy mới mắc phải sẽ dần biến mất. Nhưng khó lòng trông chờ đến ngày nó cho chúng ta những kết quả dịch thuật hoàn hảo, đọc vô không biết là văn dịch – ít ra là với cặp ngôn ngữ Anh – Việt. Bạn cứ thử dùng Google Translate dịch từ Việt sang Anh sẽ thấy kết quả khá hơn nhiều bởi máy đã quen với loại tiếng Anh tự nhiên cũng như hiện nay máy đã quen với loại tiếng Việt ngây ngô của dịch thuật.

Trừ phi Google thay đổi cách tiếp cận thêm một lần nữa. Đừng bắt máy học – dù là deep learning–theo các bản dịch đã có. Hãy bắt máy hiểu nội dung của đầu vào và bắt máy viết luận, làm luận đầu ra bằng thứ tiếng Việt tự nhiên của người Việt đang dùng. Hãy quên chuyện dịch đi, may đâu mới đạt được đỉnh cao của dịch thuật.

Đó là chuyện khó bởi cho đến nay người ta đã chấp nhận chuyện dịchnhư một thực tế. Lấy ví dụ, bản dịch Hiệp định thương mại tự do giữa Mỹ và Việt Nam là một bản dịch hoàn hảo nhưng bảo đảm bất kỳ người Việt nào đọc bản Hiệp định này bằng tiếng Việt sẽ cho đó không phải là tiếng Việt tự nhiên.

Hãy đọc câu này ở trang nhất xem thử nó có phải là tiếng Việt không: “Mỗi bên điều hành các biện pháp thuế quan và phi thuế quan có ảnh hưởng đến thương mại để tạo cho hàng hóa của Bên kia những cơ hội cạnh tranh có ý nghĩa đối với các nhà cạnh tranh trong nước”.Nhưng dễ gì chính phủ hai nước chấp nhận một “bản dịch” thuần Việt theo kiểu “làm luận”, được viết lại toàn bộ trừ phi phía Việt Nam là bên soạn thảo và phía Mỹ phải dịch ra tiếng Anh?

Cho dù Google Translate đọc câu sau “The Government’s approach to restructuring its banking sector is considerably different fromwhat is generally considered as good practice” và hiểu ý của nó nói cách chính phủ tái cơ cấu hệ thống ngân hàng là không giống ai nhưng nó cũng sẽ dịch như hiện nay nó đang dịch (và vậy đã là quá tốt): “Cách tiếp cận của Chính phủ để tái cơ cấu ngành ngân hàng khác biệt đáng kể so vớinhững gì thường được coi là thực hành tốt”.


Thôi đành đợi một bước đột phá khác của Google Translate trong tương lai vậy!

Vòng kim cô Facebook

Nhảy khỏi vòng kềm tỏa của Facebook Một hôm có chàng trai buồn bã đến gặp vị thiền sư, nói: “Thưa thầy, không biết vì sao dạo này tâm c...